Đầu năm 2012, Phòng Quản lý công nghiệp của hai Sở Công thương Hà Nội và TPHCM đã có các cuộc tham quan, gặp mặt để chia xẻ, trao đổi thông tin cũng như kinh nghiệm và nghiệp vụ quản lý. Qua các buổi tiếp xúc này, cán bộ công nhân viên hai Phòng chuyên môn của Sở Công thương đã tăng thêm hiểu biết chung, qua đó giúp nhau nâng cao năng lực quản lý.
Sự tương đồng về ngành công nghiệp hai thành phố: Trước hết, TPHCM và Hà Nội đều là hai thành phố có sản lượng giá trị công nghiệp cao. TPHCM có giá trị công nghiệp 160.710 tỷ đồng (số liệu 2010 giá 1994) bằng 18% giá trị công nghiệp cả nước. Của Hà Nội con số này là 79.585 tỷ đồng bằng 10% giá trị công nghiệp cả nước. Đây là hai thành phố tập trung với mật độ cao các DN công nghiệp. TPHCM có 14,4 nghìn DN công nghiệp chiếm 69% DN vùng Đông nam Bộ. Hà Nội có 6,4 nghìn DN công nghiệp chiếm 64% số DN vùng đồng bằng sông Hồng. Khác với công nghiệp của nhiều tỉnh thành thường chỉ tập trung vào một số ngành công nghiệp cấp 2, công nghiệp TPHCM cũng như Hà Nội phát triển và phân bố khá rộng trên 30 ngành công nghiệp cấp 2.
Có nhiều điểm tương đồng, nhưng công nghiệp hai thành phố cũng có những đặc trưng riêng. Ví dụ: Về cơ cấu, khối công nghiệp Nhà nước của TPHCM chỉ còn chiếm 14% giá trị công nghiệp, trong khi tại Hà Nội con số này là 23%. Khối DN chiếm tỷ trọng cao nhất của Hà Nội là khối công nghiệp FDI, trong khi của TPHCM là khối dân doanh. Các ngành công nghiệp nổi trội nhất của TPHCM từ trên xuống là: Thực phẩm, đồ uống, hóa chất, cao su nhựa. Trong khi của Hà Nội là các ngành: Cơ khí, điện tử và ô tô xe máy. TPHCM sớm vận hành theo cơ chế thị trường, nên số lượng DN công nghiệp chuyên doanh, qui mô lớn của TPHCM nhiều hơn so với Hà Nội, do đó sự cạnh tranh phát triển trong khu vực công nghiệp của TPHCM cũng sôi động hơn. Công nghiệp TPHCM đã có trên 600 DN đạt qui mô doanh thu trên 100 tỷ đồng/năm. Tại Hà Nội, con số này là khoảng 300 DN. Đi vào chuyên ngành cụ thể, ví dụ như ngành nhựa, TPHCM có trên 20 DN có doanh thu trên 200 tỷ đồng/năm, trong khi Hà Nội chỉ có dưới 10 DN đạt qui mô này, mà phần nhiều là các DN vốn FDI. DN nhựa có qui mô cao nhất của TPHCM là Cty nhựa Bình Minh đạt doanh thu trên 1 nghìn tỷ đồng/năm, trong khi DN nhựa lớn nhất của Hà Nội là HTX Song Long chỉ có qui mô doanh thu khoảng 500 tỷ đồng/năm. TPHCM có thế mạnh cao về ngành thực phẩm, được thể hiện với nhiều DN chuyên môn hóa sâu về sản phẩm và đạt sản lượng lớn. Ví dụ: TPHCM có trên 50 DN chế biến sữa, mà DN lớn nhất là Cty Vinamilk đạt qui mô trên 15 nghìn tỷ đồng doanh thu/năm. Trong khi Hà Nội chỉ có khoảng 20 DN hoạt động trong lĩnh vực này, và qui mô cũng nhỏ hơn nhiều, DN sữa lớn nhất của Hà Nội là Cty Sữa quốc tế IDP đạt qui mô doanh thu khoảng 1,1 nghìn tỷ đồng/năm. Mặc dù có giá trị công nghiệp nhỏ hơn, nhưng Hà Nội cũng có thế mạnh với một số ngành công nghiệp. Chẳng hạn, về ngành công nghiệp xe máy, Hà Nội có gần 200 DN, trong đó có sự tham gia của nhiều DN vốn FDI lớn Nhật Bản. Trong khi TPHCM chỉ có khoảng 50 DN hoạt động trong lĩnh vực này. Cũng như vậy, Hà Nội có tới gần 10 DN công nghiệp lắp ráp ô tô, bao gồm cả DN dân doanh lớn như Xuân Kiên, Thành Công,... Trong khi TPHCM chỉ có 5 DN thuộc lĩnh vực này với chủ yếu là DN vốn FDI và DN Nhà Nước như Isuzu, Mercedes và Samco, mà có ít DN dân doanh tham gia. Ngoài ra, Hà Nội có thế mạnh với so với TPHCM về số lượng và giá trị sản xuất tại các làng nghề thủ công nghiệp, với 1.270 làng nghề thủ công nghiệp, trong đó có 244 làng nghề truyền thống với đội ngũ 116 nghệ nhân được thành phố công nhận.
Về định hướng phát triển được Chính Phủ phê duyệt, công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh cũng như Hà Nội đều được xác định vị trí là trung tâm công nghiệp, là đầu tầu của vùng kinh tế trọng điểm cũng như cả nước, cùng hỗ trợ các địa phương trong vùng phát triển. Định hướng mới nhất đến năm 2020 của công nghiệp Hà Nội vừa được phê duyệt là: Xây dựng Hà Nội thành trung tâm công nghệ cao của cả nước, phát triển công nghiệp gắn với khoa học công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, thiết kế chế tạo thử nghiệm sản phẩm mới và văn phòng của các tập đoàn sản xuất lớn, đưa Hà Nội về cơ bản có nền công nghiệp theo hướng hiện đại trước năm 2020. Công nghiệp TPHCM theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố thông qua đã xác định mục tiêu đến năm 2015, tầm nhìn 2020 sẽ phát triển TPHCM thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ đa lĩnh vực của khu vực phía Nam và Đông Nam á. Công nghiệp cả hai thành phố đều định hướng tập trung vào công nghiệp có hàm lượng tri thức và công nghệ cao. Với TPHCM, phải thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài và khai thác các nguồn vốn trong dân để phát triển công nghiệp. Với Hà Nội phải chú trọng thu hút và hợp tác chặt chẽ với các tập đoàn đa quốc gia nhằm tham gia vào hệ thống sản xuất và phân phối quốc tế. Cả hai thành phố đều nhấn mạnh vai trò của công tác quy hoạch công nghiệp. Theo đó, hai thành phố đều có kế hoạch di rời các cơ sở công nghiệp sử dụng nhiều lao động, công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường ra khỏi khu vực trung tâm. Cả hai thành phố đều nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường, môi sinh, nhất là đối với Hà Nội. Tại TPHCM sẽ chú trọng đầu tư một số khu công nghiệp chuyên ngành, để tạo điều kiện ứng dụng công nghệ cao. Tại Hà Nội sẽ ưu tiên phát triển một số khu công nghiệp công nghệ cao. Cả hai thành phố đều nhấn mạnh việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao để chủ động tham gia phân công vào lao động quốc tế.
Về các giải pháp phát triển công nghiệp, cả hai thành phố đều nhấn mạnh các giải pháp về tài chính, thị trường, khoa học công nghệ, xúc tiến đầu tư, đào tạo dạy nghề,… TPHCM nhấn mạnh giải pháp tăng chi từ ngân sách cho nghiên cứu khoa học công nghệ; Cấp kinh phí thường xuyên từ ngân sách thành phố cho các hoạt động quảng cáo kêu gọi đầu tư. Hà Nội nhấn mạnh các giải pháp tăng cường phổ biến và ứng dụng công nghệ thông tin về thị trường cho doanh nghiệp; Ưu tiên cho đầu tư trực tiếp 100% vốn FDI, nhất là các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia có tầm cỡ trên thế giới. Cả hai thành phố đều nhấn mạnh đến sự hợp tác liên vùng. Theo đó, Hà Nội sẽ phối hợp với các tỉnh thành phố trong phát triển các khu cụm công nghiệp để hướng Hà Nội trở thành trung tâm tập trung nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, không tham gia vào khâu sản xuất. TPHCM tại khu vực trung tâm chỉ bố trí các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, công nghệ thông tin, công nghiệp sạch, cơ khí chính xác và công nghiệp hỗ trợ. Cả hai thành phố đều nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy nhanh sắp xếp, cổ phần hóa, đẩy nhanh tiến độ đầu tư thiết bị công nghệ mới, nâng cao năng suất, năng lực công nghệ đối với khối DN công nghiệp Nhà Nước. TPHCM nhấn mạnh đến giải pháp xây dựng một số tập đoàn kinh tế với nền tảng là các tổng công ty mạnh, có sự tham gia bình đẳng theo cơ chế thị trường của các thành phần kinh tế khác. Thành phố Hà Nội đề ra việc nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm xây dựng mô hình doanh nghiệp mẹ con phù hợp với các điều kiện của thành phố. Về công nghiệp hỗ trợ, TPHCM đang xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ theo vùng. Đây là kinh nghiệm tốt mà Hà Nội có thể tham khảo vì Hà Nội hiện mới dừng ở việc xây dựng một chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong khi công nghiệp hỗ trợ chiếm tới 1/4 sản lượng công nghiệp Hà Nội.
Về chính sách hỗ trợ, cả hai thành phố đều đã ban hành các chính sách hỗ trợ lãi suất, trong đó có ngành công nghiệp. UBND thành phố HCM đã ban hành Quyết định số 33 ngày 28/5/2011 về thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kích cầu của thành phố Hồ Chí Minh. Theo Quyết định này, các dự án đầu tư của TPHCM có chuyển giao công nghệ, sản xuất sản phẩm công nghệ cao phù hợp với danh mục công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao theo qui định hiện hành; Các dự án thuộc cac ngành: Cơ khí, điện tử-công nghệ thông tin, hóa dược-cao su, dự án đầu tư sản xuất các loại máy móc, sản phẩm cơ khí, sản phẩm điện tử, thiết bị thế hệ mới hoặc sử dụng công nghệ mới được điện tử hóa, tự động hóa, điều khiển theo chương trình máy tính,.. sẽ được thành phố hỗ trợ toàn bộ 100% lãi suất vay. Các dự án đầu tư mới, mở rộng sản xuất các sản phẩm cơ khí chính xác, máy móc thiết bị kiểm tra an toàn; Các dự án đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ cho các ngành sản xuất vật liệu composit, vật liệu mới có chất lượng cao; sản xuất sản phẩm in phức hợp, bao bì màng đa lớp; cơ khí làm khuôn mẫu phục vụ sản xuất công-nông nghiệp; Các dự án đầu tư phát triển các sản phẩm như: điện gia dụng, dây cáp điện, dây điện từ, đèn compact, máy biến áp, ống thép không gỉ, cốp pha nhựa, lốp ô tô được tiêu thụ trong nước; Các dự án đầu tư sản xuất các loại động cơ như Diezen, xăng loại nhỏ, máy kéo phục vụ công-nông nghiệp; Các dự án đầu tư sản xuất và nội địa hóa lắp ráp ô tô; sản xuất các phương tiên vận tải như ô tô từ 12 đến 60 chỗ, ô tô tải nhẹ, ô tô chuyên dùng; các dự án chế biến tinh lương thực, thực phẩm thực phẩm sử dụng công nghệ cao để tạo ra các sản phẩm có chất lượng và giá trị gia tăng cao,.. được hỗ trợ 50% lãi suất vay. UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định 5487 ngày 24/11/2011 về hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho các doanh nghiệp của thành phố Hà Nội năm 2011. Theo quyết định này, các doanh nghiệp Hà Nội sản xuất sản phẩm được thành phố công nhận là sản phẩm công nghiệp chủ lực; doanh nghiệp chế biến nông sản thực phẩm; các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, có doanh thu năm 2010 đạt tối thiểu 300 tỷ đồng; các doanh nghiệp có sử dụng trên 1000 lao động;..được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư với mức hỗ trợ 0,2% tháng tương đương 2,4% năm. Cả hai Phòng Quản lý công nghiệp qua trao đổi đều thống nhất cho rằng: Phải làm tốt khâu tuyên truyền phổ biến chính sách; kịp thời nắm bắt đúng nhu cầu và thực trạng doanh nghiệp; có thông tin hướng dẫn, giải thích nhanh chóng, đầy đủ; Và kịp thời sửa đổi các qui định cụ thể nếu xét thấy không còn phù hợp,… thì mới đưa được các chính sách trên vào thực tiễn với hiệu quả cao.
Hà Nội và TPHCM là hai trung tâm kinh tế lớn, với số dân đông, thu nhập cao, sức mua lớn. Từ nhiều năm nay, nhiều sản phẩm công nghiệp của hai thành phố đã phát triển khá tốt tại hai địa bàn này. Về khả năng hợp tác liên kết hai thành phố trong ngành công nghiệp, hai Phòng đã thống nhất cần phải đề xuất các giải pháp tạo điều kiện tốt hơn cho nhóm các DN thế mạnh của hai thành phố mở rộng thị trường tiêu thụ, cũng như đầu tư phát triển trên địa bàn của nhau. Ví dụ: Hà Nội cần khuyến khích các siêu thị, trung tâm thương mại lớn Hà Nội bán các loại thực phẩm chế biến sẵn, các loại giầy dép, quần áo, đồ gỗ,… của TPHCM. Cần tạo điều kiện cho các DN ngành bao bì, in, nhựa của Hà Nội có cơ hội tham quan học hỏi kinh nghiệm về ngành sản xuất rất có thế mạnh này của TPHCM. Cần tạo môi trường cho một số sản phẩm thế mạnh Hà Nội như động cơ, máy biến thế, công nghệ thông tin,… đầu tư phát triển tại TPHCM, cũng như tạo điều kiện cho các DN mạnh của TPHCM trong ngành nhựa, bao bì,… đầu tư phát triển tại Hà Nội. Thành phố HCM đang đi trước Hà Nội cả về công nghệ cũng như qui mô chế biển thực phẩm xuất khẩu theo tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm. Vì vậy, cần tạo điều kiện cho các DN chế biến thực phẩm Hà Nội sớm tham khảo, học tập kinh nghiệm này.
Về quản lý khu cụm công nghiệp, TPHCM và Hà nội đều rất quan tâm và đã ban hành các qui định về quản lý trong lĩnh vực này. TPHCM đã có hai văn bản là: Quyết định số 46 ngày 12/7/2011 về quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với khu chế xuất và khu công nghiệp. Quyết định số 47 cùng ngày về quy chế phối hợp quản lý đối với cụm công nghiệp. Hà Nội đã ban hành các Quyết định số 63 ngày 27/4/2009 về chức năng nhiệm vụ quyền hạn tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp và chế xuất thành phố Hà Nội; Quyết định số 44 ngày 10/9/2010 về quản lý cụm công nghiệp. Cả hai Phòng cũng thống nhất nhận định việc quản lý cũng như phối hợp quản lý đối với khu cụm công nghiệp đây là vấn đề còn nhiều khó khăn vì phải thực hiện đồng thời các nguyên tắc “Một cửa” và “một đầu mối” nhưng lại đòi hỏi “không làm giảm vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi cơ quan tham gia quản lý ” và “cách thức phối hợp không làm cản trở công việc của nhau”. Hầu hết việc quản lý trong khu cụm công nghiệp đều gắn với sự phối hợp hoặc ủy quyền. Ví dụ: Ủy quyền quản lý xuất nhập khẩu, ủy quyền kêu gọi đầu tư, ủy quyền về cấp phép đầu tư, ủy quyền về quản lý lao động,…Trên thực tế, các hoạt động trong khu công nghiệp ngày càng phát sinh các yêu cầu mới mà không thể có một cửa duy nhất nào có thể giải quyết đồng thời tất cả được, ví dụ như: Xây nhà ở cho công nhân, xây dựng hệ thống cửa hàng siêu thị trong khu công nghiệp; xây dựng và quản lý về xử lý chất thải, vấn đề giải quyết bãi công bãi thị trong khu công nghiệp,... Việc bố trí, chuyển giao hoặc đan xen trách nhiệm quản lý khu công nghiệp nếu không giải quyết một cách tổng thể thì sẽ dẫn tới sự quá tải hoặc tạo vùng trống trong quản lý, làm mất hiệu lực quản lý. Không phải tự nhiên mà tại Chỉ thị 07 ngày 2/3/2012 của Thủ tướng Chính Phủ về chấn chỉnh quản lý khu công nghiệp đã chỉ ra các bất cập như: Chất lượng quy hoạch khu công nghiệp chưa tốt, phát triển quá nhanh về số lượng; đầu tư phát triển còn dàn trải; cơ cấu đầu tư vào khu công nghiệp còn bất hợp lý; tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp còn chưa cao; chưa khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường; nhà ở, thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động chưa được đảm bảo,…Cũng không phải tự nhiên mà tại Chỉ thị này, Thủ Tướng Chính phủ đã chỉ đạo tạm dừng việc bổ sung quy hoạch và thành lập mới các khu công nghiệp và cụm công nghiệp trên cả nước, đồng thời giao Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng đề án kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống cơ quan quản lý Nhà Nước đối với khu công nghiệp từ Trung ương tới địa phương.
Để kiện toàn bộ máy quản lý phát triển cụm công nghiệp, Sở Công Thương Hà Nội đã đề suất việc chuyển các Ban Quản lý cụm công nghiệp thành các Trung tâm phát triển cụm công nghiệp theo mô hình các đơn vị sự nghiệp có thu. Qua đó, tăng cường năng lực quản lý, hỗ trợ cho các DN trong cụm công nghiệp. UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quy chế phối hợp quản lý cụm công nghiệp là một kinh nghiệm tốt mà Hà Nội có thể tham khảo và học tập kinh nghiệm này. Trong quy chế này, vai trò, quyền hạn và cơ chế quản lý cho Sở Công Thương đã được làm rõ hơn và thuận lợi hơn, ví dụ như qui định yêu cầu các văn bản của các cơ quan liên quan đến cụm công nghiệp đều phải gửi cho Sở Công Thương để biết và phối hợp theo dõi thực hiện. Qui chế này cũng làm rõ vai trò của Sở Công Thương trong việc lập và thẩm định quy hoạch, lựa chọn đơn vị kinh doanh hạ tầng, kiểm tra việc thực hiện qui định về bảo vệ môi trường, nắm bắt tình hình hoạt động của cụm công nghiệp và tổng hợp thông tin báo cáo UBND thành phố. Đức CN |